[Văn hay chữ tốt] Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

0
phan tich bai tho viet bac - [Văn hay chữ tốt] Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

[Văn hay chữ tốt] Phân tích bài thơ của Tố Hữu

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài.

  • Những sáng tác thơ của Tố Hữu luôn gắn với những sự kiện lịch sử hào hùng và vẻ vang.
  • Những câu thơ lục bát giàu sức hấp dẫn thu hút lòng người trong bài thơ  ”Việt Bắc”  đã ca ngợi mối tình gắn bó sâu nặng giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc

2. Thân bài.

*Khái quát: Toàn đoạn thơ có tám câu viết theo thể lục bát, với âm điệu nhẹ nhàng tha thiết mang âm hưởng ca dao dân ca, là lời ướm hỏi và sự giãi bày nỗi niềm, rung động trong cảm xúc bâng khuâng của người ở lại và người ra đi trong giờ phút chia li.

  • Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là nỗi nhớ thiết tha của: “kẻ ở – người đi”. Nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, nhớ con người Việt Bắc ấm áp, nghĩa tình; nhớ Việt Bắc hào hùng trong kháng chiến. Nỗi nhớ ấy đã bộc lộ tình cảm ân nghĩa, thủy chung với cách mạng.

* Mở đầu là tâm trạng của người đi kẻ ở đầy bịn rịn và lưu luyến. 

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

  • Bâng khuâng, lưu luyến, bịn rịn. Đó là tâm trạng không nỡ xa rời của những con người đã từng sống, từng gắn bó, từng chia sẻ trong suốt mười lăm năm.

* Người ra đi hiểu được nỗi lòng của người ở lại cho nên có tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn tha thiết: 

“Tiếng ai tha thiết bên cồn 

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi 

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” 

  • Ba tính từ trạng thái đi liền trong bốn câu thơ thể hiện rất rõ tâm trạng, nỗi lòng của người ra đi.

* Đó là tâm trạng chan chứa ân tình của những con người đã gắn bó trong suốt mười lăm năm. 

“Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

  • Chỉ vài hình ảnh “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” là khung cảnh rừng núi hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến.

* Mình và Ta đã từng chịu chung gian khổ “miếng cơm chấm muối”, đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung “mối thù nặng vai”.

“Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”

Biện pháp tu từ nhân hoá “rừng núi nhớ ai” nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến.

“Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

  • Cùng với chữ ta, thì chữ mình xuất hiện với tần số cao đã tạo nên sắc điệu trữ tình thắm thiết đậm đà tính dân tộc.

* Lời người về cũng chí tình chí nghĩa:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh,

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”

Hai đại từ Ta – Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một:

“Mình đi, mình lại nhớ mình”

(Trả lời cho câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta”)

* Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

Đó còn là sự chia sẻ những khó khăn gian khổ với nhau:

“Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Hình ảnh người mẹ Việt Bắc gây nhiều suy ngẫm:

”Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.”

  • Trải qua những khó khăn gian khổ, chịu khắc nghiệt của thiên nhiên Việt Bắc, người mẹ ấy vẫn sẵn sàng trải qua mọi khó khăn gian khổ để đóng góp công lao cho cuộc kháng chiến của dân tộc.

”Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”

  • Dù nghèo về vật chất nhưng lại giàu tình yêu thương, gắn bó cùng kháng chiến.
  • Một tiếng mõ giữa rừng chiều, một tiếng chày đêm ngoài suối âm vang mãi trong lòng người ra về:

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa”

  • Là những con người tài hoa và hơn hết những người Việt Bắc là những người ân tình, thủy chung.

“Ta về, mình có nhớ ta 

Ta về ta nhớ những hoa cùng người 

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi 

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. 

Ngày xuân mơ nở trắng rừng 

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang 

Ve kêu rừng phách đổ vàng 

Nhớ cô em gái hái măng một mình 

Rừng thu trăng rọi hoà bình 

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

  • Một bức tranh tứ bình đầy đặc sắc, đậm đà phong cách dân tộc.
  • Mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp là mùa đông năm 1946, bởi vậy nỗi nhớ của nhà thơ cũng trải qua bốn mùa đông- xuân – hè – thu, theo dòng chảy lịch sử. Mỗi mùa đều mang một vẻ đẹp riêng dạt dào sức sống. Bởi vậy khi con người xuất hiện trên nền cảnh thiên nhiên ấy cũng độc đáo biết chừng nào.
  • Giọng thơ ngọt ngào, bồi hồi cứ quyện lấy tâm hồn con người khi chất trữ tình và tính dân tộc cứ hòa vào nhau. Không gian nghệ thuật đầy sức sống với âm thanh, màu sáng, cấu trúc hài hòa và cân đối.

* Cuộc kháng chiến anh hùng của Ta và Mình được tái hiện trong hòai niệm của người về:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

* Đoạn thơ:

“Những đường Việt Bắc của ta 

Ðêm đêm rầm rập như là đất rung 

Quân đi điệp điệp trùng trùng 

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan 

Dân công đỏ đuốc từng đoàn 

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. 

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày 

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên. 

Tin vui trăm miền

Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về 

Vui từ Ðồng Tháp, An Khê 

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”. 

  • Tái hiện không khí hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp đồng thời nói lên niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

3. Kết bài.

  • Những nét chấm phá ấy tinh tế theo tinh thần hội họa phương Đông, nhà thơ đã dựng nên một bức tranh đầy chất thơ.
  • Phải có tình cảm gắn bó tha thiết thì mới có thể tạo ra được những câu thơ vừa đậm chất trữ tình lại vừa giàu tính dân tộc như vậy.

phan tich bai tho viet bac - [Văn hay chữ tốt] Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Phân tích bài thơ Việt Bắc

Bài văn tham khảo

Những sáng tác thơ của Tố Hữu luôn gắn với những sự kiện lịch sử hào hùng và vẻ vang. Những  câu thơ lục bát giàu sức hấp dẫn thu hút lòng người trong bài thơ  ”Việt Bắc”  đã ca ngợi mối tình gắn bó sâu nặng giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc ca ngợi mối tình gắn bó sâu nặng giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc. Tác giả đã chọn thể thơ lục bát và lối hát đối đáp như trong ca dao dân ca và hình tượng hoá Việt Bắc và những người cán bộ kháng chiến là Ta – Mình. Cuộc chia li giữa nhân dân Việt Bắc và những người chiến sĩ cách mạng như là cuộc chia tay của một đôi bạn tình đầy bịn rịn, nhớ nhung, lưu luyến.

Xem thêm:  [Văn hay chữ tốt] Bình luận câu tục ngữ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Cảm hứng chủ đạo của đoạn trích là nỗi nhớ thiết tha của: “kẻ ở – người đi”. Nhớ thiên nhiên Việt Bắc tươi đẹp, nhớ con người Việt Bắc ấm áp, nghĩa tình;  vừa nhớ Việt Bắc hào hùng trong kháng chiến.  Nỗi nhớ ấy đã bộc lộ tình cảm ân nghĩa, thủy chung với quê hương cách mạng.  Toàn đoạn thơ có tám câu viết theo thể lục bát, với âm điệu nhẹ nhàng tha thiết mang âm hưởng ca dao dân ca, là lời ướm hỏi và sự giãi bày nỗi niềm, rung động trong cảm xúc bâng khuâng của người ở lại và người ra đi trong giờ phút chia li. Mở đầu là tâm trạng của người đi kẻ ở đầy bịn rịn và lưu luyến.

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Cách xưng hô ‘’mình-ta’’ gợi sự mộc mạc thân gần như lời bày tỏ tình yêu đôi lứa trong dân gian, gợi liên tưởng đến câu ca dao:

‘’Mình về ta chẳng cho về

Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ’’

Đại từ mình trong ca dao thể hiện cao trào tình yêu khi hai người hóa thân làm một, tác giả lấy phép màu nhiệm của tình yêu để cắt nghĩa, lí giải cho mối quan hệ gắn bó giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc. Bâng khuâng, lưu luyến, bịn rịn. Đó là tâm trạng không nỡ xa rời của những con người đã từng sống, từng gắn bó, từng chia sẻ trong suốt mười lăm năm. Người ở lại: lên tiếng trước. Chữ “nhớ” được nhắc đi nhắc lại, vừa là lời hỏi, vừa là lời nhắn nhủ, vừa là nhịp cầu dãi bày tình cảm. Những câu hỏi đã khẳng định nỗi lòng của người Việt Bắc. Việt Bắc hỏi người ra đi: có nhớ người ở lại. Nhớ mười lăm năm từng gắn bó ân tình. Nhớ sông núi, nhớ nguồn, bốn chữ nhớ được láy đi láy lại gợi nỗi lòng thường trực, ám ảnh trong lòng người đọc. Sau mỗi chữ “nhớ” là một ấm nồng được lặp lại.

Người ra đi hiểu được nỗi lòng của người ở lại cho nên có tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn tha thiết:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Chỉ một chữ ‘’ai’’ cũng đủ làm say đắm lòng người, chữ ai không còn la đại từ phiếm chỉ để nói đối tượng không xác định nữa mà ở đấy dường như ta và mình đang cất tiếng hát cho cuộc chia tay đầy lưu luyến tạo nên cõi mơ hồ, mông lung trong nỗi nhớ. Chữ ‘’ai’’ cũng là cách nói để làm tăng thêm tình cảm yêu thương để câu nói trở nên tình tứ và sâu sắc hơn.  Tâm trạng của người ra đi thể hiện ở câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.  Cách ngắt nhịp 3/3 ở câu lục và 3/3/2 ở câu cuối cùng câu thơ bỏ lửng đầy chất biểu cảm, nhịp điệu ấy gợi ta nhớ đến cảnh chia tay đầy lưu luyến và bịn rịn.  Đó là sự lưu luyến, bịn rịn không nỡ xa rời. Người ra đi cầm tay mà không biết nói gì nhưng thực chất đã nói lên rất nhiều điều trong thương nhớ. Đó là sự im lặng chứa đầy cảm xúc.  Tâm trạng của kẻ ở – người đi đã khơi nguồn cho toàn bộ nỗi nhớ trong bài thơ Việt Bắc. Đó là tâm trạng chan chứa ân tình của những con người đã gắn bó trong suốt mười lăm năm.

“Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

Chỉ vài hình ảnh “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù” là khung cảnh rừng núi hiện lên ảm đạm trong những ngày đầu kháng chiến. Mình và Ta đã từng chịu chung gian khổ “miếng cơm chấm muối”, đã cùng chung lưng đấu cật để chống kẻ thù chung “mối thù nặng vai”.

“Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già.

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Mình về còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”

Câu thơ nối nhau tạo thành một dòng chảy của những kỉ niệm cuồn cuộn, nồng nàn tha thiết, mỗi cặp lục bát lại khơi gợi một kỉ niệm về những tháng ngày sâu nặng nghĩa tình. Chữ ‘’mình’’ gói ghém bao tình cảm thân thương. Tố Hữu cũng cho thấy sự biến hóa linh hoạt trong việc sử udngj đại từ ‘’mình’’ để sắc thái và ý nghĩa của đại từ này. Biện pháp tu từ nhân hoá “rừng núi nhớ ai” nói lên tình cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người kháng chiến. Mình về thì núi rừng Việt Bắc trống vắng “Trám bùi để rụng, măng mai để già”. Quả trám (trám xanh và trám đen) và măng mai là hai món ăn thường nhật của bộ đội và cán bộ kháng chiến.

“Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?”

Cùng với chữ ta, thì chữ mình xuất hiện với tần số cao đã tạo nên sắc điệu trữ tình thắm thiết đậm đà tính dân tộc. Tố Hữu đã vận dụng cách nói và cách thể hiện tình cảm của dân gian trong ca dao, dân ca một cách sáng tạo. Tình cảm cách mạng và kháng chiến, tình lưu luyến của lứa đôi và của kẻ đi người ở. Lời người về cũng chí tình chí nghĩa:

“Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh,

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…”

Hai đại từ Ta – Mình cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mình, mình với ta” thật là nồng nàn. Ý nghĩa lại không rạch ròi để rồi nhập lại làm một:

“Mình đi, mình lại nhớ mình”

(Trả lời cho câu hỏi: “Mình về mình có nhớ ta”)

Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải nói những lời thật nồng thắm, phải so sánh với những tình cảm cao quý nhất của con người:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

Tố Hữu lấy thước đo giá trị trong tình yêu để so sánh và cắt nghĩa, lí giải cho tình cảm của cán bộ với nhân dân Việt Bắc. Không phải là nỗi nhớ nghĩa vụ mà nhớ bằng cả trái tim chân thành và tha thiết. Câu thơ ‘’trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương’’ như được phân thành hai nửa của hai vế câu. Hai câu thơ tiếp dường như tình yêu đã chuyển thành nỗi nhớ trong tình cảm :

‘’Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về’’

Nỗi nhớ ấy không mông lung mà cụ thể như những bản làng, những mái nhà thấp thoáng làn khói sương hư ảo. Kết thúc khổ thơ, tình cảm lan tỏa cả núi rừng Việt Bắc:

‘’Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy’’

Bằng phép liệt kê các địa danh làm cho những kỉ niệm khơi ra tầng tầng lớp lớp. Đây cũng là những danh từ chung miêu tả đặc điểm không gian miền Bắc với bao nét đẹp thơ mộng.

Xem thêm:  Nếu là ông lão đánh cá trong truyện “Ông lão đảnh cá và con cá vàng”, em sẽ kể lại chuyện xảy ra với mình như thê' nào?

Đó còn là sự chia sẻ những khó khăn gian khổ với nhau, những kỉ niệm gắn bó:

‘’Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Những năm tháng ân tình đầy kỉ niệm được thể hiện qua những từ ngữ tương phản ‘’đắng cay, ngọt bùi’’ thể hiện sâu sắc những kỉ niệm và ân tình cùng nhau. Bao tình thương gói ghém trong từng củ sắn, bát cơm và mảnh chăn xui mà nhân dân Việt Bắc giành cho cán bộ kháng chiến, hình ảnh ấy thật đậm đà tình giai cấp.

Hình ảnh người mẹ Việt Bắc gây nhiều suy ngẫm không thể quên:

“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.”

Trải qua những khó khăn gian khổ, chịu khắc nghiệt của thiên nhiên Việt Bắc, người mẹ ấy vẫn sẵn sàng trải qua mọi khó khăn gian khổ để đóng góp công lao cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Đó còn là ngày tháng gian khổ nhưng vẫn luôn có tinh thần lạc quan yêu đời, gắn bó bên nhau:

”Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”

Dù nghèo về vật chất nhưng lại giàu tình yêu thương, gắn bó cùng kháng chiến. Dù khó khăn nhưng những con người ấy vẫn rất lạc quan yêu đời. Một tiếng mõ giữa rừng chiều, một tiếng chày đêm ngoài suối âm vang mãi trong lòng người ra về:

“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa’’

Nỗi nhớ con người Việt Bắc: Trong nỗi nhớ của người ra đi, người Việt Bắc là những con người cần cù, chịu thương, chịu khó, những con người sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi, cùng chung tay gánh vác nghĩa tình cách mạng. Là những con người tài hoa và hơn hết những người Việt Bắc là những người ân tình, thủy chung.

“Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

Nhớ thiên nhiên Việt Bắc: Vẻ đẹp của bốn mùa. Mùa nào cũng đẹp, cũng đáng yêu, đáng nhớ. Hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc được nhà thơ tái hiện sinh động, sâu sắc trong đoạn thơ trên.  Một bức tranh tứ bình đầy đặc sắc, đậm đà phong cách dân tộc. Mở đầu cuộc kháng chiến chống Pháp là mùa đông năm 1946, bởi vậy nỗi nhớ của nhà thơ cũng trải qua bốn mùa đông- xuân – hè – thu, theo dòng chảy lịch sử. Mỗi mùa đều mang một vẻ đẹp riêng dạt dào sức sống. Bởi vậy khi con người xuất hiện trên nền cảnh thiên nhiên ấy cũng độc đáo biết chừng nào. Giọng thơ ngọt ngào, bồi hồi cứ quyện lấy tâm hồn con người khi chất trữ tình và tính dân tộc cứ hòa vào nhau. Không gian nghệ thuật đầy sức sống với âm thanh, màu sáng, cấu trúc hài hòa và cân đối.  Mười câu thơ có thể coi là bức tranh tứ bình đẹp và quý về thiên nhiên, con người Việt Bắc. Hai câu đầu: Mang ý nghĩa định hướng, cảm xúc bao trùm, khơi nguồn toàn bộ đoạn thơ. Đó là lời của người ra đi. Người ra đi khẳng định tình cảm chắc chắn của mình: Ta về ta vẫn nhớ, nhớ nhất là hoa và người Việt Bắc.  Hình ảnh hoa phải chăng là  tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc. Còn khi nhớ người: nhớ người Việt Bắc chịu khó, cần cù, ân tình thủy chung. Tám câu thơ tiếp theo: gợi vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc trong nỗi nhớ khôn nguôi của kẻ ở, người đi.  Mở đầu bức tranh tứ bình là bức tranh mùa đông Việt Bắc: thực tế trong bức tranh này, tác giả không nói rõ tên mùa, nhưng đặt trong cấu trúc của toàn bộ bức tranh thì đó là mùa đông Việt Bắc. Trong không gian núi rừng bao la, không chỉ có những bông chuối đỏ tươi mà còn có cả hình ảnh con người vượt lên trên không gian với tư thế đầy kiêu hãnh, xuất hiện lấp lánh cùng chiếc dao gài ngang lưng:

”Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi 

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. ”

Bức tranh mùa đông với màu xanh bạt ngàn trầm tĩnh của núi rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối đã xua đi cảm giác lạnh lẽo và u ám. Cảnh ngày xuân cũng hiện lên đầy tươi thắm:

”Ngày xuân mơ nở trắng rừng 

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

Tác giả dùng ngày xuân chứ không phải bởi ngày xuân  nói đến khoảnh khắc cụ thể. Động từ ”nở” đặt cạnh từ ”trắng” vừa diễn tả bước đi , vừa nhấn mạnh màu sắc Việt Bắc trong ngày xuân. Câu thơ gợi nhớ đến cảnh ngày xuân trong thơ của Nguyễn Du:

”Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Không chỉ nhớ về thiên  nhiên mà còn là nỗi nhớ về con người Việt Bắc cần cù, chăm chỉ, khéo léo ”chuốt từng sợi giang”. Xuân sang ngập tràn sắc trắng của hoa mơ. Đó là vẻ đẹp đặc trưng của Việt Bắc vào mùa xuân. Màu trắng của hoa mơ khiến không gian trở nên thơ mộng, lãng mạn và huyền ảo.  Động từ “nở” đem đến cho ta cảm nhận dường như cảnh vật đang vận động, đang chuyển động.

Bức tranh mùa hè được hiện lên, có lẽ đây là bức tranh đặc sắc nhất của núi rừng Việt Bắc. Mùa hè chiến khu cũng hiện lên trong âm thanh, sắc màu không thể quên:

”Ve kêu rừng phách đổ vàng 

Nhớ cô em gái hái măng một mình ”

Động từ ”đổ vàng” đã diễn tả thật tài tình sự thay đổi màu đột ngột của rừng phách. Khi tiếng ve vang lên báo hiệu hè đến, cả rừng phách xanh tươi lá bỗng chuyển sang màu vàng óng ả. Cách viết của tác giả thật tài tình. Câu thơ vừa giàu vần điệu và thanh điệu. Từ ”gái – hái” kết hợp với điệp phụ âm ”măng một mình” dường như cô gái hái măng ấy không cảm thấy cô đơn mà mang vẻ đẹp khỏe khoắn vì cô đang giữa khúc nhạc rừng. Mùa hè Việt Bắc như đọng cả trong tiếng ve và trong màu vàng của rừng phách. Động từ “đổ”: được tác giả sử dụng rất tinh tế, chỉ sự biến đổi mau lẹ, triệt để của màu sắc.  Hai chữ “đổ vàng” ngắn gọn, giản dị nhưng rất biểu cảm và đặc biệt nó đã mở ra 3 cuộc chuyển đổi: Thứ nhất, đó là sự chuyển đổi về không gian: chỉ trong thoáng chốc, cả khu rừng nhuốm sắc vàng của rừng phách. Thứ hai, đó là sự chuyển đổi về thời gian, sắc vàng của rừng phách đưa nhịp cầu thời gian từ xuân sang hè. Thứ ba, là cuộc chuyển đổi trong cảm giác (từ thính giác sang thị giác).

Nhớ về mùa hè rồi nhớ về mùa thu Việt Bắc:

”Rừng thu trăng rọi hoà bình 

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

Câu thơ mở ra tràn ngập ánh trăng thanh bình soi chiếu khắp chiến khi, tất cả đều thanh mát rượi mà nên thơ, một êm ả nơi núi rừng Việt Bắc. Nếu 3 bức tranh đông, xuân, hè được tác giả miêu tả vào ban ngày thì bức tranh mùa thu được tác giả miêu tả vào thời điểm ban đêm với ánh trăng thanh huyền ảo. Thời điểm này tạo ra một không gian thi vị, lãng mạn phù hợp với những cuộc hát giao duyên.  Rừng thu: mở ra chiều rộng mênh mang của đất, trăng thu gợi không gian thăm thẳm của trời khiến cho không gian trở nên bát ngát hơn, thi vị hơn, huyền ảo hơn. Điểm đặc sắc trong cấu trúc của bức tranh tứ bình thì cứ câu lục tả cảnh thì câu bát . Cảnh và người hòa quyện khiến cho bức tranh trở nên đẹp hơn, ấm áp hơn và mang đậm sắc thái cổ điển phương Đông.  Trong những câu thơ gợi tả vẻ đẹp con người Việt Bắc có 3 chữ “nhớ” được lặp lại, đứng ở vị trí đầu câu thơ. Đó là nỗi nhớ của người chiến sĩ cách mạng nặng lòng khi hướng tới những con người cụ thể. Thiên nhiên Việt Bắc là phông nền để nhà thơ tô đậm vẻ đẹp con người. Trước hết đó là những con người vững trãi, tự tin, làm chủ núi rừng:

Xem thêm:  [Văn hay chữ tốt] Thuyết minh về cây tre Việt Nam

“Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

Đó là vẻ đẹp của những con người khéo léo, tài hoa, cần mẫn

“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

Vẻ đẹp của những con người chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh:

“Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Đặc biệt, vẻ đẹp của sự “ân tình thủy chung” của người Việt Bắc đã làm thành nỗi nhớ sâu nặng với người ra đi:

“Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

Bốn chữ “ân tình thủy chung” đã chạm đúng vào gốc rễ của đạo lí dân tộc. Đoạn thơ đã góp phần làm nên thành công của bài thơ Việt Bắc bởi nội dung chính trị đã được trữ tình hóa một cách đằm thắm. Tố Hữu viết về sự kiện chính trị, viết về tình cảm thủy chung cách mạng bằng giọng thơ nhỏ nhẹ của tâm tình, giọng của đôi lứa yêu thương. Trong bức tranh của bộ tứ bình đều có hình ảnh con người hiện ra thật hài hòa với thiên nhiên, trong công việc lao động và sinh hoạt thường ngày mà toát lên vẻ dung dị, hiền hòa. Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc hiện lên thật thanh bình và êm ả. Xuất hiện trong nền trời ấy là nghĩa tình thủy chung của những con người nặng tình, nặng nghĩa.

Cuộc kháng chiến anh hùng của Ta và Mình được tái hiện trong hòai niệm của người về:

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

Thiên nhiên Việt Bắc như có linh hồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng Việt Bắc tươi đẹp đã trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội. “vây”, “đánh” quân thù.

Đoạn thơ:

“Những đường Việt Bắc của ta

Ðêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.

Tin vui chiến thắng trăm miềm

Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về

Vui từ Ðồng Tháp, An Khê

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”.

Tái hiện không khí hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp đồng thời nói lên niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Giọng điệu đoạn thơ khỏe khoắn, mạnh mẽ, hào hùng và mang âm điệu sử thi. Tác giả sử dụng số nhiều ’’những, điệp điệp, nghìn’’ kết hợp với từ láy tượng thanh ‘’rầm rập’’ thể hiện sự khẩn trương, gấp gáp, số lượng đông đảo trên đường hành quân tạo sức mạnh rung chuyển mặt đất.  Đại từ sở hữu “của ta” vang lên một cách dõng dạc thể hiện niềm tự hào của những con người được làm chủ đất nước, đồng thời khẳng định Việt Bắc là chiến khu tự do.  Không khí sôi động của những ngày chiến dịch được tác giả tái hiện sinh động qua những từ ngữ, hình ảnh: rầm rập, đất rung, quân đi điệp điệp trùng trùng. Hai chữ “rầm rập” vừa gợi âm thanh, vừa tạo hình ảnh đặc sắc kết hợp với những động từ mạnh được tác giả sử dụng liên tiếp: rung, nát đá, bay đã gợi cho ta cảm nhận khí thế hào hùng của cả nước ra trận. Biện pháp nghệ thuật so sánh, tượng trưng được tác giả sử dụng triệt để giúp ta cảm nhận hình ảnh những đoàn quân đan ngày đêm tiến về mặt trận.  Ở trong đoạn trích này, ánh sáng là một điểm nhấn đặc biệt, ánh sáng của ánh sao đầu súng là một niềm vui, một niềm tin. Còn ánh sáng của “dân công… lửa bay” thực sự là một ngày hội. Ánh sáng ấy đã xua tan sương mù của những ngày đen tối.  “Nghìn đêm” và “thăm thẳm” là những từ cùng một trường nghĩa chỉ độ dài thời gian và độ dài tâm lí. Chỉ một cuộc ra quân mà bình minh của thời đại đã hé mở. Tất cả là nhờ sức mạnh của khối đại đoàn kết và tình quân dân. Điệp từ “Vui” được lặp lại nhiều lần với những danh từ chỉ địa danh thể hiện chiến thắng liên tiếp của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đoạn thơ là bức tranh hào hùng về khí thế và sức mạnh vô song của cả nước ra trận. Đoạn thơ giàu chất sử thi, anh hùng ca tái hiện một thời đáng nhớ, đáng tự hào. Với đoạn thơ này, Việt Bắc không chỉ là bản tình ca ca ngợi cách mạng, mà là bản hùng ca ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến. Kháng chiến và cách mạng đã xua tan bớt nét hiu hắt âm u của Việt Bắc, làm tăng thêm cảnh thơ mộng của nó và đưa vào đây không khí chiến đấu hào hùng của dân tộc. Vừa làm sôi nổi và đổi mới hẳn về âm hưởng và nhịp điệu. Trong bài thơ Việt Bắc hay bất cứ sáng tác nào của Tố Hữu, thường tình cảm sẽ làm nền, mà cái tình thì rất thật.

”Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Viêt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường”

Những nét chấm phá ấy tinh tế theo tinh thần hội họa phương Đông, nhà thơ đã dựng nên một bức tranh đầy chất thơ.

Với lối đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng sáng tạo,  tác giả đã đưa người đọc nhập vào không khí đầy ân tình, thiết tha của một cuộc chia tay, có lưu luyến bùi ngùi những kỉ niệm đầy sâu sắc. Phải có tình cảm gắn bó tha thiết thì nhà thơ Tố Hữu mới có thể tạo ra được những câu thơ vừa đậm chất trữ tình lại vừa giàu tính dân tộc như vậy. Bài thơ ‘’Việt Bắc’’ một lần nữa đã cho độc giả thấy được sự thống nhất chặt chẽ của hai nguồn mạch cách mạng và dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn và sức chinh phục của thơ Tố Hữu suốt một chặng đường dài.

Đỗ Anh Ngọc

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *