[Văn hay chữ tốt] Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu


[] của Tố Hữu

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

– Dẫn dắt giới thiệu tác giả, tác phẩm

+ Tố Hữu (1920-2002)

+ Bài thơ “Từ ấy” sáng tác vào tháng 7 năm 1938

– Nêu nội dung chính bài thơ: Lời tâm nguyện của người yêu nước được giác ngộ lí tưởng của Đảng

-Nêu chung

2. Thân bài:

*Hoàn cảnh ra đời tác phẩm: Ghi nhận lại những kỉ niệm đáng nhớ trong ngày được đứng vào hàng ngũ những người cùng phấn đấu vì một lí tưởng cao đẹp với những cảm xúc, suy tư sâu sắc Tố Hữu đã viết bài thơ “Từ ấy”

*Phân tích:

– Khổ 1: Niềm vui sướng say mê khi bắt gặp lí tưởng của Đảng

+ “Từ ấy”: thời điểm lịch sử trực tiếp tác động lên cuộc đời nhà thơ, là khi ông được giác ngộ lí tưởng Cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương đấu tranh cho một mục tiêu cao đẹp

+“nắng hạ”: cái nắng của chói chang, rực rỡ

=> có tác động mạnh mẽ đến tâm hồn nhạy cảm của thi nhân

+“Mặt trời chân lí”:  \Chân lí vốn là những điều đúng đắn, được mọi người công nhận. Nếu như mặt trời của thiên nhiên mang đến ánh sáng, hơi ấm và sự sống cho vạn vật trên thế gian này thì lí tưởng Cách mạng soi đường, dẫn dắt tác giả lựa chọn được đường đi đúng đắn cho cuộc đời mình.

+ “Hồn tôi”:  một vườn hoa lá, đậm hương và rộn tiếng chim

=>khái niệm “hồn tôi” vốn vô hình lại trở nên hữu hình,cụ thể

=>làm nổi bật lên khung cảnh của vườn hoa lá

=>lòng người cũng đang đắm say, ngây ngất trong niềm vui, niềm say mê và phấn khởi khi được vinh dự góp mình vào hàng ngũ của Đảng và Cách mạng cũng như hoa kia đang tràn trề sức sống khi được tắm mình trong ánh mặt trời lan tỏa

– Khổ 2: Những sự thay đổi về nhận thức, tư tưởng và lẽ sống:

+ “buộc”: không có nghĩa là ép buộc miễn cưỡng mà là sự gắn bó một cách tự nguyện

+ “trăm”: số từ chỉ số nhiều không xác định là bao nhiêu

+ “trang trải”: lan tỏa tình yêu đến muôn nơi

+ “hồn khổ”:  hình ảnh của những con người thấp cổ bé họng, những mảnh đời bất hạnh

+ “khối đời” lại gợi nhắc đến khối người đông đảo, cùng cảnh ngộ, cùng phấn đấu vì mục tiêu chung

=> Sự gắn bó lên cao hơn, thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc: sự gắn bó sâu sắc từ tận sâu trong đáy lòng , trong tâm hồn chứ không còn đơn thuần là sự gắn bó bề ngoài

– Khổ 3: Những chuyển biến trong tình cảm khá rõ rệt:

+ “vạn nhà”: chỉ số nhiều, các gia đình trên phạm vi rộng lớn

=> sự ý thức mình đã trở thành một thành viên trong đại gia đình quần chúng

+ “vạn kiếp phôi pha”: những con người nghèo khổ, bất hạnh

+ “vạn đầu em nhỏ”, “cù bất cù bơ”: những lang thang vất vưởng

+ “đã là, là con, là em, là anh”: diễn tả tình cảm đầm ấm, thân thiết gắn bó  với “vạn kiếp phôi pha”, “vạn đầu em nhỏ”

=> Người chiến sĩ ấy không chỉ sống trong lòng nhân dân, được nhân dân yêu thương, đùm bọc mà chính ông cũng bày tỏ lòng xót xa, đau đớn với những kiếp người nhỏ bé trong xã hội lúc bấy giờ

=> Càng yêu thương, càng đồng cảm bao nhiêu ông lại càng căm giận những ngang trái của cuộc đời bấy nhiêu để rồi từ đó nhận thức được trách nhiệm của cá nhân nhà thơ lại càng hăng say hoạt động Cách mạng

* Khái quát nghệ thuật:

* Liên hệ mở rộng (có thể đan xen vào bài viết)

3. Kết bài:

– Khái quát lại nội dung tác phẩm

– Phát biểu cảm xúc cá nhân

[Văn hay chữ tốt] Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

Phân tích bài thơ Từ ấy

Bài làm tham khảo

Nhà văn Leptônxtôi từng nhận xét: “, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống”. Câu nói gợi ta nghĩ đến với dòng chảy thơ ca Cách mạng của Tố Hữu. Nếu như thơ ca của ông là một mặt trận chiến đấu thì mỗi bài thơ trong đó lại như một thứ vũ khí sắc bén. Mà trên hết, cái tình, cái thi hứng mà ông gửi gắm vào mỗi tác phẩm thì hay lắm, đẹp lắm. Lời tâm nguyện của người thanh niên yêu nước được giác ngộ lí tưởng của Đảng đã được Tố Hữu thổ lộ qua bài thơ “Từ ấy” sáng tác vào tháng 7 năm 1938:

Xem thêm:  Giới thiệu tác phẩm Ánh trăng của nhà thơ Nguyễn Duy

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

……………………………..

Không áo cơm cù bất cù bơ”

Ghi nhận lại những kỉ niệm đáng nhớ trong ngày được đứng vào hàng ngũ những người cùng phấn đấu vì một lí tưởng cao đẹp với những cảm xúc, suy tư sâu sắc Tố Hữu đã viết bài thơ “Từ ấy”. Mở đầu bài thơ là tiếng reo vui của người thanh niên yêu nước được giác ngộ lí tưởng Cách mạng:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Hai tiếng “Từ ấy” lại vang lên với vai trò không chỉ mở đầu cho một câu thơ, một khổ thơ mà là sự khởi đầu cho cả một mạch cảm xúc. “Từ ấy” là một phiếm định về , một mốc không hề cụ thể nhưng đặt trong hoàn cảnh sáng tác của bài thơ thì nó lại giữ một vai trò vô cùng quan trọng, nó như một cột mốc xác định thời điểm lịch sử trực tiếp tác động lên cuộc đời nhà thơ, là khi ông được giác ngộ lí tưởng Cách mạng, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương đấu tranh cho một mục tiêu cao đẹp. Đó là một kỉ niệm mang ý nghĩa sâu sắc với người thanh niên nên ông đã mạnh dạn bộc lộ sự hân hoan, niềm vui sướng của mình, khác hoàn toàn với Tố Hữu của trước đây:

“Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”

hay

“Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước

Chọn một dòng hay để nước trôi”

Trong những ngày tháng ấy, cũng giống như những thanh niên tiểu tư sản khác, ông là người có trong mình niềm nhiệt huyết sục sôi tinh thần dân tộc nhưng chưa có được đường đi đúng đắn. Vậy nên lí tưởng Cộng sản như thứ ánh nắng rực rỡ bừng lên trong họ. Thứ ánh nắng được tác giả nhắc đến không phải là ánh nắng của mùa xuân ấm áp cũng không phải là ánh nắng dịu nhẹ của mà là cái nắng của mùa hè chói chang, rực rỡ. Nó có tác động mạnh mẽ đến tâm hồn nhạy cảm của thi nhân, nó giúp xé tan cái tối tăm, u ám nặng trĩu trong lòng người bấy lâu nay. Không chỉ có “nắng hạ” mà với Tố Hữu lí tưởng Cách mạng còn là “mặt trời chân lí”. Chân lí vốn là những điều đúng đắn, được mọi người công nhận ở đây lại gắn liền với “mặt trời” cùng nhau làm nên một hình ảnh đầy mới lạ. Nó thể hiện được thái độ trân trọng của nhà thơ với lí tưởng của Đảng. Nếu như mặt trời của thiên nhiên mang đến ánh sáng, hơi ấm và sự sống cho vạn vật trên thế gian này thì lí tưởng Cách mạng soi đường, dẫn dắt tác giả lựa chọn được đường đi đúng đắn cho cuộc đời mình. Lí tưởng ấy cứ “bừng sáng” rồi lại chói qua tim – nơi giao thoa mọi cung bậc cảm xúc, khiến cho mạch cảm xúc của thi nhân cứ thế mà dâng trào như những đợt sóng dồn dập, mạnh mẽ cứ thế mà truyền thẳng đến tâm hồn người đọc thế giới tinh thần của người Cộng sản trẻ tuổi. Người thanh niên đã đón nhận ánh hào quang ấy bằng cả trái tim, bằng cả tấm lòng cùng nhận thức đúng đắn: chỉ làm đúng khi có lí tưởng Cách mạng chiếu rọi. Lí tưởng đã làm thay đổi một con người, một cuộc đời để rồi:

Loading...

“Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim”

Khéo léo, hài hòa và nhuần nhuyễn trong việc vận dụng nghệ thuật so sánh cùng bút pháp lãng mạn nhà thơ đã ví von hồn mình như “một vườn hoa lá”. Nó giúp cho khái niệm “hồn tôi” vốn vô hình lại trở nên hữu hình,cụ thể. “Đậm hương” và “rộn tiếng chim” là hai “nét vẽ” cơ bản được chêm xen vào để làm nổi bật lên khung cảnh của vườn hoa lá. Nơi đây mang một sắc màu tươi tắn, cảnh vật hấp dẫn, tràn đầy năng lượng: mảnh vườn nở rộ những chùm hoa, cỏ ngàn tỏa hương thơm ngát, có âm vang rộn rã của tiếng chim làm xao xuyến lòng người. Dường như cái nhộn nhịp, vui tươi ấy ta cũng từng bắt gặp trong những vần thơ sôi nổi của :

Xem thêm:  Bình giảng bài thơ Vịnh khoa thi hương của tác giả Trần Tế Xương

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si”

Phải chăng lòng người cũng đang đắm say, ngây ngất trong niềm vui, niềm say mê và phấn khởi khi được vinh dự góp mình vào hàng ngũ của Đảng và Cách mạng cũng như hoa kia đang tràn trề sức sống khi được tắm mình trong ánh mặt trời lan tỏa. Cách mà tác giả tiếp nhận lí tưởng của Đảng cũng như cách mà cỏ cây vươn mình ra đón nhận ánh mặt trời để sinh sôi, nảy nở. Với Tố Hữu, với tư cách là một nhà thơ, một nhà hoạt động Cách mạng thì lí tưởng của Đảng không chỉ đem đến sức sống mới mà còn đem lại nguồn cảm hứng sáng mà hơn thế nữa là đổi mới cả một hồn thơ.

Có thể nói đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà màu sắc lãng mạn nhất trong thơ Tố Hữu. Ngoài việc sáng tạo hình ảnh ẩn dụ, hình ảnh so sánh tác giả còn rất tinh tế trong việc lựa chọn và sử dụng những từ ngữ hình tượng, gợi cảm. Trong bối cảnh những năm 1938, khi đất nước ta rơi vào vòng nô lệ thì việc được giác ngộ lí tưởng của Đảng là một lối thoát trong ngõ cụt và giờ đây những người thanh niên này đã tìm thấy ánh sáng của niềm hi vọng làm chủ chính quê hương của mình nên tâm trạng vui sướng của nhà thơ cũng chính là tâm trạng vui sướng của một thế hệ.

Từ niềm vui sướng ấy mà trong Tố Hữu đã có những sự thay đổi về nhận thức, tư tưởng và lẽ sống:

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Như một sự tự nhiên, một lẽ thông thường, từ khi bắt gặp lí tưởng của Đảng nhà thơ đã thay đổi hoàn toàn quan niệm sống cũng như tinh thần và trách nhiệm cá nhân. Con người cá nhân đã nhòe đi, tan biến dần đi nhường chỗ cho cái tôi rộng lớn – cái tôi hướng đến cuộc đời, hướng đến những con người. Những ích kỉ, hẹp hòi ngăn cản cái tôi cá nhân đến với cuộc đời không còn nữa, con đường hòa nhập mỗi lúc lại được mở rộng, nâng cao. Tình yêu của Tố Hữu lớn lao lắm! Tình yêu ấy không dành riêng cho riêng ai mà nó đã được nâng lên thành tình cảm với toàn dân tộc. Đó là sự gắn bó bền chặt với ý thức tự nguyện “buộc” – như không thể tách rời với “bao hồn khổ”. “Buộc” và “trang trải” tưởng chừng như là hai động từ trái nghĩa nhưng thực chất khi đặt vào hai câu thơ liên tiếp chúng lại mang tới sự đồng nhất. Nó khiến cho câu thơ cụ thể hóa được sự giao hòa, giao cảm, gắn bó đến hết thảy mà Tố Hữu dành đến hết thảy cho những người lao động cần lao:

“Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”

Hai câu thơ với hai hình ảnh ẩn dụ khác nhau. Nếu như “hồn khổ” được nhắc đến là hình ảnh của những con người thấp cổ bé họng, những mảnh đời bất hạnh thì “khối đời” lại gợi nhắc đến khối người đông đảo, cùng cảnh ngộ, cùng phấn đấu vì mục tiêu chung. Cùng với hai hình ảnh ẩn dụ, sự góp mặt của biện pháp nghệ thuật điệp cấu trúc “để…” đã giúp đẩy sự gắn bó lên cao hơn, thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc: sự gắn bó sâu sắc từ tận sâu trong đáy lòng , trong tâm hồn chứ không còn đơn thuần là sự gắn bó bề ngoài. Giống như Tố Hữu, nhà thơ Xuân Diệu cũng đã từng giãi bày:

Xem thêm:  Viết đoạn văn ngắn phân tích cái hay trong đoạn thơ sau: "Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm... Ôi kì lạ và thiêng liêng! Bếp lửa!" (Bếp lửa - Bằng Việt)

“Tôi cùng xương thịt với nhân dân

Cùng đổ mồ hôi cùng sôi nước mắt

Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

Của triệu người yêu dấu cần lao”

Bên cạnh những nét chuyển biến về tư tưởng, lẽ sống Tố Hữu còn có những chuyển biến trong tình cảm khá rõ rệt:

“Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm cù bất cù bơ”

Đến đây, thêm một lần nữa nhà thơ đã tự mình vượt ra khỏi cái tôi cá nhân, vượt qua sự hẹp hòi, ích kỉ của giai cấp tiểu tư sản để có được tình hữu ái giai cấp, tinh thần ruột thịt với tầng lớp nhân dân lao động. Tố Hữu đã khẳng định “Tôi đã là con của vạn nhà”. Đó là sự ý thức mình đã trở thành một thành viên trong đại gia đình quần chúng. Lối diễn đạt trùng điệp cấu trúc “Là…của…” đồng thời giọng thơ cũng trở nên sôi nổi, thiết tha hơn càng nhấn mạnh khẳng định trên của tác giả. Thêm vào đó là các từ “đã là, là con, là em, là anh” lại giúp diễn tả tình cảm đầm ấm, thân thiết gắn bó với “vạn kiếp phôi pha”, “vạn đầu em nhỏ”. Lời thơ dường như xót xa hơn khi nhắc tới hình ảnh những em nhỏ “cù bất cù bơ”. Sự yêu thương, ngậm ngùi xót xa cho đến sau này vẫn thấm đẫm trong mỗi lời thơ của Tố Hữu:

“Ai ăn bánh bột lọc không

Tiếng rao sao mà ướt lạnh tê lòng”

(Một tiếng rao đêm)

Có thể nhận thấy rằng: người chiến sĩ ấy không chỉ sống trong lòng nhân dân, được nhân dân yêu thương, đùm bọc mà chính ông cũng bày tỏ lòng xót xa, đau đớn với những kiếp người nhỏ bé trong xã hội lúc bấy giờ. Càng yêu thương, càng đồng cảm bao nhiêu ông lại càng căm giận những ngang trái của cuộc đời bấy nhiêu để rồi từ đó nhận thức được trách nhiệm của cá nhân nhà thơ lại càng hăng say hoạt động Cách mạng, nguyện được đứng vào hàng ngũ những người “than bụi lầy bùn” để cùng nhau đấu tranh cho một ngày mai tươi sáng.

Với cách kết thúc thơ đặc biệt như mở ra trong người đọc những cảm xúc về tinh thần nhân loại và hướng ta đến với những nghĩa cử cao đẹp.

Thể thơ bảy chữ, cách diễn đạt ngắn gọn kết hợp với giọng điệu sôi nổi, lạc quan đã cùng nhau làm nên một “Từ ấy” như bó hoa lửa lộng lẫy nồng nàn nở ra từ cuộc Cách mạng vĩ đại của dân tộc (theo Đặng Thai Mai). Quả thực bài thơ chính là niềm vui hân hoan khi được giác ngộ lí tưởng của Đảng cùng những chuyển biến trong quan niệm sống cũng như tình cảm của tác giả nói riêng và của những thanh niên tiểu tư sản nói chung.

Lê Thị Thư

Đánh giá bài viết
Loading...