Tuần 3 – Chiến thắng Mtao Mxây (trích Đăm Săn – sử thi Tây Nguyên)

Tuần 3 – Chiến thắng Mtao Mxây (trích Đăm Săn – sử thi Tây Nguyên)
Đánh giá bài viết

Tuần 3 – Chiến thắng Mtao Mxây (trích Đăm Săn – sử thi Tây Nguyên)

Hướng dẫn

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Về khái niệm sử thi

Sử thi dân gian là những tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hay nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại.

Có hai tiểu loại sử thi dân gian:

Sử thi thần thoại, kể về sự hình thành thế giới, sự ra đời của muôn loài, sự hình thành các dân tộc, các vùng cư trú thời cổ đại của họ hoặc cũng có khi kể về sự xuất hiện nền văn minh buổi đầu. Nước ta có một số bộ sử thi tiêu biểu cho tiểu loại này như: Đẻ đất đẻ nước (Mường), Ẩm ệt luông (Thái), Cây nêu thần (M’nông),…

Sử thi anh hùng, kể về cuộc đời và những chiến công hiển hách của người anh hùng – người đại diện cao nhất cho sự giàu có, quyển lực, sức mạnh và ước mơ của cộng đồng người thời cổ đại. Các tác phẩm tiêu biểu trong tiểu loại này là: Đăm SĂn, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú (Ê-đê); Đam Noi (Ba-na),… Trong số những tác phẩm này thì tác phẩm được biết đến rộng rãi và nổi tiếng hơn cả là sử thi Đăm Sân.

2. Về đoạn trích Chiên thắng Mtao Mxây

Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây thuộc phần giữa của tác phẩm: Theo tục nối dây, Đăm Săn phải lấy hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị. Sau khi lấy hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị, Đăm Sãn trở thành một tù trưởng giàu có và uy danh lẫy lừng. Các tù trưởng Kên Kên (Mtao Grư) và tù trưởng sắt (Mtao Mxây) lợi dụng lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông, đã kéo người tới cướp phá buôn làng của chàng và bắt Hơ Nhị về làm vợ. Cả hai lần ấy, Đăm Săn đều tổ chức đánh trả và chiến thắng, vừa cứu được vợ lại vừa thu nhân được nhiều đất đai, của cải của kẻ địch. Nhờ đó, oai danh của chàng càng lớn mạnh, bộ tộc càng giàu có và đông đúc.

Đoạn trích ngợi ca cuộc chiến đấu của Đăm Săn, một cuộc chiến đấu vì danh dự, vì hạnh phúc gia đình và hơn nữa vì cuộc sống bình yên và sự phồn vinh của thị tộc. Đoạn trích tiêu biểu cho những đặc trưng của thể loại sử thi anh hùng.

III – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

1. Tóm tắt diễn biến trận đánh để so sánh tài năng và phẩm chất của hai tù trưởng:

a) Đăm Săn đến nhà Mtao Mxây khiêu chiến, nhưng Mtao Mxây còn bôn cợt chàng mà chưa chịu giao chiến ngay.

b) Đăm Săn doạ phá nhà. Trước thái độ kiên quyết của chàng, Mtao Mxây nhận lời thách đấu, song ra điều kiện Đăm Săn không được đâm lén khi hắn bước xuống bậc cầu thang. Đăm Săn đồng ý.

c) Bước vào cuộc chiến.

Hiệp đấu thứ nhất.+ Hai bên lần lượt múa khiên.

Mtao Mxây múa trước: tỏ ra yếu ớt và kém cỏi.

Đăm Săn múa khiên: tỏ ra mạnh mẽ, tài giỏi hơn.

+ Kết quả hiệp đấu: Mtao Mxây chạy khắp nơi để tránh đường khiên Đăm Săn múa.

– Hiệp đấu thứ hai.

Đăm Săn múa khiên: đâm trúng Mtao Mxây nhưng không thủng.

– Sau đó nhờ sự giúp đỡ của ông Trời, Đăm Săn đã cắt được đầu của Mtao Mxây.

Dân làng Mtao Mxây nhất loạt theo Đăm Săn về ngôi làng mới.

2. Cuộc chiến giữa Đăm Săn và Mtao Mxây là cuộc chiến tranh thể hiện sự thống nhất cao độ giữa khát vọng của cá nhân anh hùng với ý chí của cộng đồng. Nó không phải là một cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mục đích tàn sát, cướp bóc và chiếm giữ. Chính vì thế mà thái độ của người dân ở cả hai phía đối với việc thắng thua của hai tù trưởng cũng có những nét riêng:

– Ở phía Mtao Mxây: Sau khi tù trưởng của mình thất bại, đông đảo người dân đều tâm phục và nghe theo lời vị tù trưởng mạnh hơn (“Không đi sao được!… người nhà giàu cầm đầu chúng tôi nay đã không còn nữa!”). Thái độ và hành động của đoàn người này chứng tỏ họ luôn mơ ước được ưở thành một tập thể giàu có và hùng mạnh. Họ tự nguyện theo Đăm Săn, điều đó chứng tỏ họ luôn mơ ước có được một người lãnh đạo tài giỏi có thể đem lại cho họ một cuộc sống bình yên.

Vì thế khi cuộc chiến kết thúc, ta không hề thấy có người dân nào của Mtao Mxây than khóc, hay cảm thấy đau thương.

– Ở phía Đăm Săn: Dân làng tưng bừng náo nhiệt chào đón vị anh hùng của mình mới chiến thắng trở về. Họ đi lại sửa soạn vui mừng tấp nập không chỉ để mừng buôn sóc được mở mang, được hùng mạnh và giàu có mà còn để tiếp đón những người dân mới bằng, sự chân thành và hoà hợp (“… Các chàng trai đi lại ngực đụng ngực. Các cô gái đi lại vú đụng vú. cảnh làng một tù trưởng nhà giàu trông sao mà vui thế!”).

3. Đoạn trích tuy miêu tả cuộc chiến tranh giữa các thị tộc trong thời nguyên thuỷ, thế nhưng lại không chú trọng miêu tả cảnh chết chóc đau thương. Trái lại, tác giả dân gian chủ yếu miêu tả cảnh chiến thắng tưng bừng của phía Đăm Săn.

Cuộc chiến dừng lại khi Mtao Mxây thất bại. Thế nhưng sự thất bại của Mtao Mxây không làm cho dân làng lo sợ, hoang mang. Họ ngay lập tức theo về phía Đăm Săn, hoà nhập với cộng đồng mới một cách rất tự nhiên. Dân làng của Đăm Săn cũng vậy, họ đón tiếp những người bạn mới rất chân tình. Không khí của buổi tiệc sau chiến thắng từng bừng náo nhiệt vui say không hề có một chút gọn nào. Lựa chọn cách thể hiện nghệ thuật này, tác giả dân gian đã nhận ra tính tất yếu của cuộc chiến tranh thị tộc – đó là cuộc chiến tranh không kìm hãm sự phát triển của xã hội Ê-đê, mà trái lại, nó giúp những tập thể lẻ tẻ, rời rạc tập hợp thành những tập thể lớn hơn, mạnh hơn. Và cũng chỉ như vậy, họ mới trở thành một dân tộc trưởng thành thực sự. Cách lựa chọn thể hiện nghệ thuật ấy cũng là cách để dân gian ngợi ca tầm vóc và sứ mệnh lịch sử của người anh hùng. Chỉ có những con người ưu tú của thời đại như vậy mới đủ sức đứng lên thống nhất các thị tộc nhỏ lẻ lại với nhau, gom những thị tộc ấy lại thành một cộng đồng lớn mạnh và giàu có.

4. Trong đoạn trích này, kiểu câu được dùng nhiều nhất là kiểu câu có sử dụng biện pháp so sánh, ví von. Những câu ấy, hoặc chứa biện pháp so sánh kiểu tương đồng (“chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc… Đoàn người đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối…”), hoặc so sánh kiểu tãng cấp (Đăm Săn múa khiên), cũng có trường hợp so sánh kiểu tương phản (đối lập giữa cảnh múa khiên của Đăm Sãn và Mtao Mxây). Những câu vãn theo kiểu đòn bẩy này có giá trị rất lớn trong việc miêu tả nhân vật người anh hùng. Nó khẳng định và đề cao tài nãng, sức mạnh của Đăm Săn – người anh hùng uy danh lừng lẫy làm mờ đi cả sự giàu có và sức mạnh của kẻ thù.

Cần lưu ý thêm, nếu chúng ta tiến hành phân loại thì có thể thấy rất rõ ràng: các hình ánh, sự vật được đem ra để so sánh ở đây đều lấy từ thế giới tự nhiên, từ vũ trụ. Như thế hàm ý của tác giả là muốn lấy vũ trụ để "đo” kích cỡ, tầm vóc.của nhân vật anh hùng. Thủ pháp nghệ thuật này là một thủ pháp quen thuộc của sử thi. Nó giúp mang lại những giá trị thẩm mĩ rất đặc trưng cho thể loại này: đặc trưng về sự trang trọng, hoành tráng và dữ dội.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Sự xuất hiện của ông Trời (thần linh) và việc can thiệp của ông Trời vào chiến thắng của Đăm Săn chứng tỏ ở thời kì ấy, con người và thần linh gắn bó với nhau. Hay nói cách khác, nó là dấu vết của tư duy thần thoại trong sử thi, dấu vết của một xã hội chưa có sự phân hoá giai cấp rạch ròi. Tuy nhiên cũng từ câu chuyện này có thể nhận thấy, dù có can thiệp vào công việc của con người nhưng thần linh chí đóng vai trò là người "cố vấn", "gợi ý" hành động chứ không phải là người quyết định tối cao kết quả của cuộc chiến. Như vậy trong mối quan hệ với các thần, người anh hùng vẫn giữ được vai trò quyết định và có tính độc lập riêng, sắp đặt câu chuyện theo kiểu như vậy cũng là một hình thức đề cao vai trò của nhân vật anh hùng, đề cao tinh thần dân chủ của thời thị tộc cổ xưa.

Mai Thu