Giải thích và bình luận Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ

Giải thích và bình luận Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ
Đánh giá bài viết

Đề bài: Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người (Nguyễn Văn Siêu, 1799 – 1872).

Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.

Không đợi đến thế kỉ XX này con người mới có nhiều quan điểm về văn chương mà ngay ở thế kỉ XIX, Nguyền Văn Siêu, một danh sĩ thời Nguvễn đã từng có ý kiến: “Văn chương có loại đáng thờ và không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Song nói như Lê Quý Đôn: “Văn chương là của công thiên hạ, ý kiến của mỗi người mỗi khác, phân tích thì được chứ không nên chê mắng” Cho nên, ý kiến của Nguyễn Văn Siêu đáng nên hiểu lại và hiểu như thế nào cho đúng.

Nguyền Văn Siêu là một văn sĩ có tài, là bạn thân của Cao Bá Quát từng được người đời tôn thờ là “thần Siêu, thánh Quát”. Quan niệm của ông không phải là một quan niệm dễ dãi, điều quan trọng là ta phải hiểu cho đúng ý nghĩa của câu nói “Văn chương chuyên chú ở văn chương”, “văn chương chuyên chú ở con người” là như thế nào? '

“Văn chương chuyên chú ở văn chương” là loại văn chương chỉ chăm chút gò câu đẽo chữ, tìm những chữ thật kêu, những điển tích cổ bí ẩn… Nói chung đấy là loại văn chương thuần tuý, là “văn” không cần biết nội dung, tư tưởng, là loại văn chương thuần túy về hình thức.

“Văn chuyên chú ở con người” chính là loại hình văn chương viết nên từ cuộc sống của con người, hướng đến con người, “làm cho người gần người hơn” (Đời thừa – Nam Cao). Ở đây các yếu tố hình thức là sự phát tiết anh hoa một cách tự nhiên, không cố ý. “Vọt lên từ suối là nước, từ tim người là máu” (Lỗ Tấn).

Như vậy đại ý của câu nói của họ Nguyễn là văn chương có giá trị khi lấy đề tài cảm hứng từ con người và vì con người.

Đầu tiên Nguyễn Văn Siêu nói: “Văn chương có loại đáng thờ và loại không dáng thờ”. Ông thẳng thắn phủ nhận loại văn chương không đem đến một cái gì tốt lành cho con người, văn chương như thế là loại “không đáng thờ”, không đáng để đọc, để học hỏi. Văn chương là gì liệu khòng nói về con người, về nhân sinh? Văn chương đâu cần đến những người thợ mà văn chương chỉ cần những khối óc của những “kĩ sư tâm hồn”. Văn chương mà chỉ như những đóa hoa đẹp nhưng hữu sắc mà vô hương, thì nó đâu còn là văn chương nữa. Quan niệm của Nguyễn Văn Siêu rất giống như Cao Bá Quát đương thời: 

Đáng phàn nàn cho ta đóng cửa mà gọt giũa câu văn

 Lải nhải nhai lại từng câu từng chữ 

Có khác chi con sâu đo muốn đo cả đất trời?”

(Đề sát viện Bùi Công, Yên đài anh ngữ khúc hậu) 

Không giao cảm với đời, văn chương tuôn ra ngọn bút không bắt đầu từ lòng thương cảm sâu sắc mà vì đời thì chỉ là văn chương “một tấc đến trời”, chỉ là một con sâu bé nhỏ hèn mọn ngạo mạn lố bịch có những ý nghĩ ngông cuồng, muốn đo cả vũ trụ. Những lời văn viết ra bằng sự khổ công gọt giũa trong bốn bức tường văn lạnh lẽo sẽ như một sinh vật tự dưỡng, văn chương thiếu cái mở lòng ra đón những vang động cuộc đời, thiếu sự hô hấp các dưỡng khí ngoài cuộc sống thì chỉ nhạt nhẽo, bủng beo, có chăng chỉ là những đồ lạ mắt! Họ Cao cho đó là “đồ con trẻ” là sản phẩm của một đôi tay khéo léo trong tâm hồn rỗng tuếch và giả dối. Anh đóng cửa phòng văn để viết những gì? Trong khi văn chương của anh là kia, là bầu trời bạt ngàn gió mới, là nắng ban mai hồng tươi sắc ngói. Anh đóng cửa để làm nghệ thuật, để đuổi bắt nghệ thuật khi nghệ thuật của anh ở ngoài kia, ở ngoài thanh sắc trần gian đầy sôi động: 

Bài thơ anh làm chi một nửa mà thôi 

Còn một nửa do mùa thu làm lấy.

(Chế Lan Viên)

Văn chương chỉ biết lấy chủ nghĩa duy mỹ làm đích thì thử xem có đáng thờ chăng? “Văn chương phải có quan hệ với đời” (Ngô Thì Sĩ) và “Cuộc đời là nơi đi tới cùng là điểm khởi đầu của văn chương” (Tố Hữu). Nếu L. Tônxtôi trở nên vĩ đại bởi kiệt tác Chiến tranh và hòa bình thì cũng chính là kết quả của những lần ông xông pha nơi chiến trận tìm hiểu, ghi chép. Nếu đóng cửa phòng văn hì hục viết thì Chiến tranh và hòa binh có ra đời không? Nếu không gắn bó, đau đời thì Nguyễn Du có một Đoạn trường tân thanh không? .

Văn chương không thế là như thế, văn chương để người ta gần gũi và tôn kính chứ không phải văn chương hũ nút mà người ta có thể kính nhi viễn chi. Văn chương như vậy tuyệt đối là không đáng thờ. Khổng Tử đã từng dạy học trò rằng Từ đạt nhi dĩ hí (nghĩa là văn từ cần đạt mà thôi, dễ hiểu mà thôi), điều quan trọng là cái tâm của người viết, nghĩa là thực tế, phải sống trong cuộc đời. Quan niệm của Nguyễn Văn Siêu gần giống như quan niệm của phần lớn các nhà văn thuộc dòng văn học hiện thực Việt Nam vào giai đoạn 1930-1945, lấy con người làm chủ thế sáng tạo, ngòi bút hướng vào con người.

Cuộc đời cũ vốn cuồn cuộn sóng gió bào táp đau khổ ngày đèm cứ đò dồn dập vào con người, vào nhân loại, là lương tâm của mọi thời đại (Balzac). 

Văn phải chớ đạo, phải làm cho con người tốt hơn tự hoàn thiện hơn hay ít ra cũng bắt gặp mình trong đó thì đấy mới là văn đáng thờ.

Bùi Huy Bích, học trò của Lê Quý Đôn đã viết những ý kiến thật xác đáng: “Người quân tử đời sau biết chăm học chỉ học hỏi để sửa mình rồi dần dần trở thành người có văn chương ấy là người bậc nhất. Những người tập làm văn chương rồi thấy được nghĩa lí trong đó, là bậc thứ hai. Còn hạng bét thì chỉ biết có văn chương mà thôi”.

Nói đến văn chương đáng thờ, Nguyễn Văn Siêu muốn nói đến cái giá trị của văn chương. Là nghệ thuật đi sâu vào thế giới tâm hồn của con người thì văn chương phải vì con người, vì cuộc sống con người, là chiếc đũa thần gợi mở trong con người những cái đẹp cái hay mà triệt tiêu những gì xấu xa, có hại. Văn chương phải hướng đến chân – thiện- mỹ, phải khơi ở lòng người những tình cảm nhân ái, phải đem đến cho con người một tia nhìn mới. Có ai đã không từng thấy một thằng say nhân nháo chửi đời nhưng có ai nhìn ra một anh Chí ao ước một thiên đường lương thiện như Nam Cao chưa? Có ai thấy được thế giới tâm hồn của A.Q chưa? Và có ai đã nhìn thấy được cái tình yêu cao quý cùa một thằng gù cực kì xấu xí như Quazimôđô dành cho Exmêranđa chưa? Đọc số phận của chàng Quazimôđô hay Chí Phèo ai mà không nghe dâng lên một chút xốn xang, một niềm thương yêu nghẹn ngào… Và ta khẳng định rằng: Vâng, chỉ có những hình tượng xúc động lòng người mới là văn chương, còn thuần tuý dùng kĩ thuật chạm trổ cầu kì, làm xiếc ngôn từ để người ta xem như một trò giải trí, đọc rồi quên ngay sau lúc đọc đấy chỉ là thợ đào với những con chữ, chứ không là nhà văn, nhà thơ. Người ta thường truyền giai thoại cụ Nguyễn Công Trứ đả kích lối sống sáo rỗng. Ông gặp các thầy cử trên đường khoa bảng, theo yêu cầu của họ, ông ngồi trên lưng bò vàng tủm tỉm đọc: “Sông Nhị hà sâu ba mươi sáu thước, Chim ăn chưa béo, cá không ăn bay về núi Hồng Sơn. Nhớ thủa xưa vua Thần Nông giá sắt, vua Đế Thuấn canh vấn. Cùng quăng, cùng quẳng, cùng quàng, tổng bât ngoại bò vàng chỉ liếm lá”. Một mớ ngôn từ vô cùng như thế mà ai cũng cho văn hay ý lạ. Cái tủm tỉm của Tồn Chất thâm thuý hay thay.

Ý kiến của Nguyễn Văn Siêu đúng song nếu so sánh với quan điểm nghệ thuật của Thạch Lam – thế hệ hậu bôi của Thần Siêu – thì có lẽ nhà văn trẻ này phát biểu toàn diện hơn: “Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đên cho người đọc sự thoát li hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tổ cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Không phải ngẫu nhiên hay vô tình mà cụ Nguyền Du viết:

Thiện căn ở tại lòng ta 

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.

(Truyện Kiều) 

Rò ràng, thi sĩ Tiên Điền không hề phủ nhận chữ tài. Nếu coi văn học là một cái cây thì chữ tài là lá cành mà chữ tâm là gốc rễ. Trong trường hợp văn chương chỉ đơn thuần chuyên chú ở con người mà không chuyên chú ở văn chương thì liệu có còn giá trị nữa không? Còn là một bộ môn nghệ thuật nửa không?

Có văn chương nào lại không lấy con người làm đối tượng. M. Gorki đã khẳng định: “Văn học là nhân học”, ta phải hiểu rằng không thể tách rời văn chương và con người cũng như không thế tách rời nội dung và hình thức biếu đạt của nó. Đành rằng người ta nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” nhưng nếu cả gỗ và nước sơn đều tốt thì sao? Lẽ dĩ nhiên là tốt hơn! Cho nên nếu cái đẹp đích thực thì có chăng là ở thế giới của con người, và vì vậy văn chương chân chính (nghĩa là văn chương của cái đẹp) là văn chương luôn đi đến con người và thế giới con người. Văn chương là nghệ thuật, tức là nó đi tìm kiếm, sáng tạo cái đẹp nhưng không thể có một cái đẹp thuần tuý lung linh nào ngoài cái thế giới con người. Đề tài cái đẹp văn chương không cần đâu xa lạ mà ở ngay những điều giản đơn bình thường nhất. Thực ra, văn chương chuyên chú ở văn chương và văn chương chuyên chú ở con người là hai mặt của một tờ giấy trắng. Văn chương chuyên chú ở con người nhưng không hề quay lưng với cái đẹp và nguợc lại Đỗ Phủ đã từng viết "Ngữ bất kinh nhân, tứ bất hưu” ngôn ngữ phải làm cho người ta kính phục nhưng cái chứa đựng trong ngôn ngữ kia là gì mới là quan trọng. Một tác phẩm có giá trị thì không bao giờ là một tác phẩm thô vụng: Khi anh nhìn thấy được những gì ẩn chứa sâu xa nhất của cuộc sống, anh đã có một cái tâm vĩ đại thì ắt hẳn anh không phải là một con người tầm thường, mà anh biết làm thế nào để nhân loại này hiểu anh, hiểu cái tâm của anh. Nguyền Du để lại một Đoạn trường tân thanh tràn ngập lòng nhân đạo, nhưng ông cũng để lại một công trình nghệ thuật ngôn từ rất đặc sắc phong phú mà nếu thiếu chúng thì nội dung Truyện Kiều chẳng làm say mê bao thế hệ con người.

Ở trên ta bàn đến cái khả năng có thể có sự kết hợp giữa văn chương chuyên chú ở văn chương và văn chương chuyên chú ở con người. Nhưng nếu có một ai đó đưa bạn một sản phẩm và yêu cầu lựa chọn: Đây cái này là tốt gỗ và đưa một sản phẩm khác bảo là tốt nước sơn, nếu biết giá trị của một cái hào nhoáng nhưng không ra gì và một cái giản dị nhưng vĩ đại bạn sẽ chọn bên nào?

Câu hỏi đó có lẽ sẽ là thừa. Cho nên, nếu văn chương chuyên chú ở con người thì dễ có giá trị hơn, nhưng văn chương chuyên chú ở văn chương thì chưa hẳn đã hay vì người ta chỉ đọc rồi quên ngay sau khi đọc.

Cái tâm là nguồn nuôi dưỡng để phát huy cái tài. Còn dù có tài đến đâu nếu dửng dưng trước đồng loại đến số phận con người thì cũng khó làm nên một ánh văn chương có giá trị. Vì tâm hồn con người không chỉ tiếp thu cái đẹp mà còn lại cái nhân rộng lớn, cái tình muôn thuở.

Cho nên, dầu là gì đi nữa thì chất ở bên trong văn là yếu tố quyết định. Chữ tâm là động lực là yếu tố cần thiết nhất. Lịch sử văn học đã ghi nhận hiện tượng có những người không hề có ý định làm văn, làm thơ nhưng lại là những người nghệ sĩ lớn, còn có những nhà văn nhà thơ trọn đời cũng không viết được một câu thơ có giá trị nào dù rất kiên tâm, rất dày công đèo gọt ngôn từ.

Thu Huyền