Cố hương

Cố hương

Hướng dẫn

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Lỗ Tấn (1881 – 1936) là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Ông từng theo học hàng hải, địa chất, y học, sau chuyển sang hoạt động văn học. Sự nghiệp văn học của ông gồm 17 tập tạp văn và hai tập truyện ngắn xuất sắc là Gào thét Bàng hoàng. Ông được coi như một danh nhân văn hoá thế giới.

2. Truyện Cố hương là một truyện ngắn rút trong tập Gào thét.

3. Qua câu chuyện chuyến về quê lần cuối của nhân vật “tôi”, tác giả đã thể hiện sự thay đổi của làng quê, đặc biệt là người nông dân mà Nhuận Thổ là tiêu biểu. Từ đó, tác giả phê phán xã hội phong kiến đã bần cùng hoá người nông dân, đặt ra vấn đề con đường đi của nông dân và xã hội để mọi người suy ngẫm.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. Truyện ngắn chia làm 3 phần theo trình tự thời gian. Đoạn một từ đầu đến "đang làm ăn sinh sống”: trên đường về quê. Đoạn hai từ “Tinh mơ sáng hôm sau” đến “sạch trơn như quét”: những ngày ở quê. Sự thay đổi của quê hương, đặc biệt là Nhuận Thổ. Đoạn ba là phần còn lại: trên đường xa quê, những suy ngẫm về hiện tại và tương lai.

2. Trong truyện có hai nhân vật chính. Đó là Nhuận Thổ và “tôi” – người bạn thuở ấu thơ với Nhuận Thổ. Nhân vật tôi là nhân vật trung tâm vì mọi thay đổi của nhân vật Nhuận Thổ đều được miêu tả qua cái nhìn của nhân vật “tôi”. Ngoài ra, nhân vật tôi là người ngồi thuyền về quê, ở quê, ngồi thuyền xa quê và suy ngẫm về những bức tường vô hình ngăn cách con người, ước vọng về một xã hội tốt đẹp hơn.

3. Tác giả đã dùng biện pháp miêu tả và kể chuyện để làm nổi bật sự thay đổi của Nhuận Thổ. Khi còn nhỏ, Nhuận Thổ là một cậu bé linh lợi, hùng dũng: “khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng”. Tác giả kể chuyện Nhuận Thổ biết nhiều thứ: bẫy chim, nhặt vỏ sò, canh dưa, nhìn thấy cá nhảy, hai chân như chân nhái. Bây giờ, sau nhiều năm xa cách, gặp lại, Nhuận Thổ được miêu tả: “Anh cao gấp hai trước, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật trước kia nay đổi thành vàng sạm, lại có thêm những nếp răn sâu hoắm. Cặp mắt giống hệt cặp mắt bố anh ngày trước, mi mắt viền đỏ húp mọng lên… Anh đội một cái mũ lông chiên rách tươm, mặc một chiếc áo bông mỏng dính, người co ro cúm rúm… Bàn tay này cũng không phải là bàn tay tôi còn nhớ, hồng hào, lanh lẹn, mập mạp, cứng rắn, mà vừa thô kệch vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông”. Qua việc kể lại cách xưng hô, cách đối xử của Nhuận Thổ, tác giả làm nổi bật sự thay đổi về hình dáng bề ngoài, sự thay đổi trong suy nghĩ, đối xử. Nhưng đồng thời vẫn nêu ra những nét không đổi của anh: chân thành, cần cù, chịu khó làm lụng.

Ngoài sự thay đổi của Nhuận Thổ, tác giả còn nêu sự thay đổi của nhân vật khác như chị Hai Dương. Vốn là một người đẹp, nhưng chị Hai Dương bây giờ “lưỡng quyền nhô ra, môi mỏng dính, hai tay chống nạnh, không buộc thắt lưng, chân đứng chạng ra, giống hệt cái com-pa trong bộ đồ vẽ, có hai chân bé tí". Chị trở nên chanh chua, mỉa mai, tranh thủ lấy được cái gì thì lấy (giật đôi bít tất tay của mẹ Tân, lấy chiếc “cẩu khí sát”). Có một số người đến hỏi mua đồ, nhưng tiện tay cứ mang bừa đi. Nông thôn thay đổi. “Chỗ nào cũng hỏi tiền, chẳng có luật lệ gì cả” và “mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đoạ". Điều đó đã khiến cho người nông dân khốn cùng.

4. Trong ba đoạn văn, đoạn (b) chủ yếu dùng phương thức miêu tả. Thông qua đó, tác giả muốn so sánh, làm nổi bật sự thay đổi ghê gớm của Nhuận Thổ trước đây so với bây giờ. Tác giả đã miêu tả từ khuôn mặt, đôi mắt, nước da, bàn tay, dáng điệu. Tất cả đều nói lên Nhuận Thổ đã đổi thay về bề ngoài rất nhiều, mà thay đổi theo hướng tiều tụy, mụ mẫm đi.

Đoạn (a) chủ yếu dùng phương thức tự sự. Tác giả kể lại các sự việc khi hai người bạn (“tôi” và Nhuận Thổ phải xa nhau). Ngoài tự sự ra, tác giả còn sử dụng phương thức biểu cảm, nêu lên tình cảm của mình với Nhuận Thổ (xốn xang, khóc to lên).

Đoạn (c) chủ yếu dùng phương thức lập luận, thông qua đó tác giả muốn hướng tới việc phải tạo ra con đường mới, phải thay đổi nông thôn và thay đổi cả xã hội Trung Quốc, để có một xã hội mới, không có sự cách bức, cũng không có sự hủy hoại, làm cho con người mụ mị như xã hội phong kiến đương thời.

III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

2. Muốn làm bài tập 2, cần đọc lại tác phẩm, chú ý những từ ngữ miêu tả trực tiếp, đồng thời căn cứ vào miêu tả của tác giả để chọn từ cho thích hợp. Ví dụ hình dáng khi còn nhỏ: khuôn mặt tròn trĩnh. Hai chục năm sau, khuôn mặt vẫn tròn trĩnh, nhưng Nhuận Thổ đã “cao gấp đôi” so với ngày trước. Thái độ với "tôi” trước đây thân mật, gần gũi gọi nhau là anh em. Bây giờ cung kính, cách biệt, gọi là ông, thưa gửi như với một bề trên. Tính cách hiền lành, tốt bụng, chân thành thì bây giờ vẫn thế.

Mai Thu

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *